Người Việt duy nhất ở Bangui

Thứ sáu, ngày 02/06/2017
A- A A+

Tôi rất ấn tượng với câu khẳng định “Người Việt ở đâu cũng sống tốt” của người phụ nữ Việt Nam duy nhất đang sống ở thủ đô Bangui, nước CH Trung Phi. Và quả thật, gia đình bà đang sống tốt hơn rất nhiều gia đình khác ở nơi đang còn nội chiến ngày nào cũng nghe tiếng bom rơi, đạn nổ và đói nghèo bậc nhất trên thế giới này.  

Bà Luyến cùng cháu và chắt trước căn nhà của mình tại thủ đô Bangui.

Kiên cường trong mọi hoàn cảnh

Đã nhiều lần lỡ hẹn, đến tận ngày nghỉ Tết dương lịch tôi mới có điều kiện tới thăm gia đình bà Nguyễn Thị Luyến, ở trong một con ngõ gập ghềnh đất đá và bụi đất ở quận 2, thủ đô Bangui. Bà ra tận cổng, vội vàng kéo cánh cổng sắt hoen gỉ và ôm chầm lấy tôi, rồi nắn vai tôi như thể muốn chắc chắn rằng bà đang được gặp người đồng bào đầu tiên của mình sau 63 năm nơi đất khách. Bà quê gốc ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Năm 1953, bà theo một người lính lê dương về Trung Phi và sống ở Bangui từ đó đến giờ, vì một số lí do, bà chưa một lần trở về Việt Nam. Bà Luyến rưng rưng hỏi tôi đủ thứ chuyện về quê hương mình bằng thứ tiếng Việt không còn lưu loát và tròn rõ. Lúc bí từ để diễn tả, bà chêm bằng tiếng Pháp, bởi từ khi sang Trung Phi bà chưa từng một lần liên lạc về Việt Nam, và theo bà, ở nơi này, chỉ có bà là người Việt duy nhất, do đó, bà không có cơ hội dùng tiếng mẹ đẻ giao tiếp với bất cứ ai. Bà vẫn dùng cách nói của những năm 1950, như xưng “tôi” và gọi tôi là “ông” dù bà đã 85 tuổi.

Hiện việc kinh doanh ăn uống của gia đình bà tạo công ăn việc làm cho 17 người dân địa phương và các cháu.

Nhìn bề ngoài, chẳng ai nghĩ là bà Luyến đã từng ấy tuổi, bởi bà còn minh mẫn và nhanh nhẹn lắm. Bà vừa tự bê chiếc nghế nhựa từ trong căn nhà cấp 4 ra ngoài mái hiên để tiếp khách, vừa bảo: “Trời cho sức khỏe ông ạ, không thì sao sống nổi đến giờ ở nơi này”. Tôi đã ở CH Trung Phi thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) một thời gian đủ dài để xác nhận sự khắc nghiệt của thời tiết, bệnh dịch cũng như an ninh bất ổn ở nơi này. Khó có thể miêu tả được hết cái nắng bỏng rát “đặc sản” Trung Phi, nhưng có thể minh họa bằng hình ảnh này để bạn đọc dễ hình dung: hầu hết xe của LHQ qua sử dụng dăm tháng và thường xuyên để ngoài nắng, phần da bọc ở phía trước bên trong xe bị chảy và sùi ra như nhựa đường đun nóng. Vậy mà cũng như phần lớn các gia đình ở thủ đô Bangui, bà Luyến sống cùng các cháu của mình ở trong căn nhà cấp 4 lợp mái tôn, điện lưới phập phù: ngày có thì đêm mất. Tôi ngồi dưới mái hiên nhà bà, đầu vẫn đội mũ mà vẫn cảm thấy cái nắng như xuyên xuống từ lớp mái tôn. Sự bất ổn về an ninh thì lúc nào cũng thường trực trong gần 3 năm nay. CH Trung Phi rơi vào vòng xoáy bạo lực kể từ khi Tổng thống Francois Bozize bị lực lượng nổi dậy Hồi giáo Seleka lật đổ hồi tháng 3/2013. Theo thống kê chưa đầy đủ của Liên hợp quốc, bạo lực ở quốc gia có gần 5 triệu dân này đã khiến ít nhất 5.000 người thiệt mạng, gần 440.000 người phải di tản sang các khu vực khác trong nước, 190.000 người phải xin tị nạn tại các quốc gia láng giềng. Bà Luyến chia sẻ: Mỗi lần bạo lực bùng phát, bà bắt các cháu mình đi lánh nạn, còn bà và một người cháu lớn vẫn quyết tâm ở lại trông nhà cửa và hàng quán, dù nhiều gia đình khác sơ tán hết. “Hồi nhỏ ở Việt Nam, lúc giặc Pháp càn quét, bố tôi đi công tác vắng, mẹ tôi cũng là người duy nhất ở lại trông nhà. Phụ nữ Việt Nam ở đâu cũng vậy thôi, kiên cường trong mọi hoàn cảnh!”, bà Luyến tự hào.

Đã 85 tuổi, bà vẫn chỉ đạo các cháu việc kinh doanh ă uống. 

Trụ cột gia đình nơi đất khách

Bà Luyến kể, để có “khả năng kinh tế” như ngày hôm nay, bà đã phải nỗ lực rất nhiều. Bà được người lính lê dương đưa về Trung Phi làm vợ khi kinh tế gia đình ông gần như chẳng có gì. Tôi chẳng hình dung những năm 1950, người dân nơi này còn nghèo đến mức nào nữa, bởi giờ đây Trung Phi vẫn đang là một trong những quốc gia đói nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Tôi đã nhiều lần chứng kiến khẩu phần bữa trưa của thanh niên địa phương làm nhân viên bảo vệ nơi tôi ở là miệng bát con bột sắn nấu sền sệt, họ dùng tay vê tròn và quệt vào bát lá sắn nấu với một mẩu cá mà nhai trệu trạo. Sau hơn 10 năm đưa bà về chung sống ở Bangui, chồng bà chết vì bạo bệnh. Bà ngấn lệ khi kể về nỗi gian truân khi một mình nơi đất khách tần tảo nuôi 4 đứa con thơ: “Tôi làm tất cả mọi việc có thể, ai thuê làm việc nặng nhọc cũng chẳng quản, miễn là kiếm được miếng ăn cho con. Phụ nữ châu Phi có thể bất lực ngồi nhìn con chết đói. Phụ nữ Việt bao giờ cũng hi sinh tất cả vì con”. 

Nem Việt là món ăn ưa thích của người dân địa phương và nhân viên LHQ. Trong ảnh: Mâm nem lớn đã vơi đi nhanh chóng sau lượt khách đầu tiên tại cửa hàng ăn của gia đình bà ở trụ sở Cao ủy LHQ về người tị nạn.

Người dân Trung Phi có ít khả năng tăng gia, và ngay cả đến bây giờ, theo quan sát của tôi, ít gia đình khai thác hiệu quả khu vườn họ có, phần lớn là bỏ hoang hoặc trồng những cây dễ sống như chuối, xoài. Với bà Luyến, ngay từ hồi mới tới Trung Phi, bà đã bắt tay vào canh tác khu vườn nhà mình. Bà tập trung vào những cây trồng cho lương thực, như mùa khô thì trồng sắn, mùa mưa thì trồng ngô. Thế nên, trong khi nhiều gia đình hàng xóm đói quanh năm, các con của bà vẫn có ngô và sắn để cầm cự. Bà bảo: “Cứ có đất, dù cằn cỗi đến mấy cũng vẫn trồng cấy được, miễn là phải cần cù, chịu khó”. Tôi hiểu, câu thành ngữ của người Việt “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” đã được bà mang theo và áp dụng một cách triệt để ở nơi thổ nhưỡng nghèo nàn và khí hậu khắc nghiệt này. Chính vì thế, 4 đứa con của bà đều có thể đến trường đều đặn và họ được bà rèn đức tính cần cù, chịu khó, không quản ngại gian khó của người Việt. Kết quả là họ đều trưởng thành, trừ 1 người con trai mất sớm. 2 người con gái của bà lấy chồng và đều sang Pháp sinh sống, người con trai còn lại ở Bangui, làm cho một cơ quan của chính phủ.

Tác giả và bà Luyến cùng các cháu, chắt của bà.

Người cháu gái bà khẳng định: Đến giờ, bà Luyến vẫn là người “trụ cột” của gia đình, bà vẫn chỉ đạo các cháu chế biến các món ăn để kinh doanh. Bà Luyến cười: “Người Việt ở đâu cũng sống tốt mà!”. Kinh tế của gia đình bà khá hẳn lên từ khi bà bắt đầu mở quán hàng ăn cách đây hơn 10 năm. Đồ ăn là những món ăn thuần Việt mà bà vẫn chế biến cho gia đình mình và truyền lại cho các con, rồi đến các cháu, như như rau cải xào lòng gà, cá sốt cà chua, cá kho riềng… và món chủ đạo là nem rán. Một điều thú vị là bà vẫn gọi món đặc sản này với tên tiếng Việt: Nem, mà không dùng một từ tiếng Pháp hoặc tiếng địa phương (Sango) tương đương. Nem là món ăn được nhiều người dân Bangui biến đến và ưa chuộng. Bằng chứng là một lần chúng tôi làm nem và biếu bà chủ nhà nơi chúng tôi thuê trọ một đĩa nhỏ để thưởng thức. Vừa nhìn thấy, bà chủ nhà đã gọi đúng tên món nem: “Ôi, nem hả!”. Từ khi có lực lượng GGHB LHQ đóng tại Bangui, các cháu gái bà Luyến đã xin được giấy phép bán đồ ăn trưa trong trụ sở của Cao ủy LHQ về người tị nạn (UNHCR), nằm đối diện với Sở chỉ huy Phái bộ MINUSCA - nơi tôi và 2 sĩ quan Việt Nam khác đang làm sĩ quan tham mưu quân sự ở đó. Vẫn là các món ăn Việt gia đình bà vẫn nấu, và nem cũng vẫn là món mà hầu hết nhân viên LHQ làm việc gần đó ưa thích.

Trong cái nắng chiều Trung Phi vẫn còn nóng bỏng, bà Luyến nhìn tôi rồi đưa ánh mắt xa xăm ra phía ngoài cổng khi tôi hỏi bà có còn nhớ Tết cổ truyền của quê hương. Bà xúc động bảo: từ khi chồng bà chết, 40 năm qua, bà không nhớ nổi và không tính được Âm lịch để biết Tết rơi vào thời gian nào. Tôi trách mình vô tình khơi vào miền kí ức về năm mới thiêng liêng của người xa xứ 63 năm chưa một lần trở lại quê hương. Bà quay đi như cố dấu giọt lệ nơi khóe mắt khô cằn và sai đứa cháu ghi lại ngày Tết cổ truyền. Bà nghẹn ngào: “Năm nay, tôi sẽ tổ chức cho gia đình đón Tết Việt. Tết là quê hương mà!”.

Vũ Hiệp.

Hoạt động Gìn Giữ Hòa Bình